Get Adobe Flash player

Sáng 19.11, PGS.TS Nguyễn Thy Khuê, chủ tịch hội nội tiết và đái tháo đường Việt Nam, trưởng bộ môn nội tiết (đại học y dược TP.HCM) có buổi tư vấn trực tuyến bệnh tiểu đường tại Sài Gòn Tiếp Thị Online.

 

Read more: PGS.TS Nguyễn Thy Khuê tư vấn bệnh tiểu đường

Phì đại cơ vận nhãn

VI. CHẨN ĐOÁN
1. Thể điển hình
Gặp ở phụ nữ trẻ với đầy đủ các dấu chứng lâm sàng như trên.
2. Thể triệu chứng
Ưu thế một số cơ quan
Biểu hiện tim.
Biểu hiện thần kinh.
Biểu hiện cơ.
Nhược cơ nặng và Basedow. Bệnh xương nhiễm độc giáp. Biểu hiện tiêu hóa.
Basedow và nôn mửa. Biểu hiện huyết học. Thể vú to và Basedow. Basedow và tăng cân.

Read more: Bệnh Basedow (p3): Chẩn đoán điều trị và theo dõi

IV. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Chia làm 2 nhóm hội chứng lớn, đó là biểu hiện tại tuyến giáp và ngoài tuyến giáp.
1. Tại tuyến giáp
1.1. Bướu giáp
Bướu giáp lớn, thường lan tỏa, tương đối đều, mềm, đàn hồi hoặc hơi cứng, có thể có rung miu tâm thu, thổi tâm thu tại bướu, nếu bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận. Một số biểu hiện rối loạn vận mạch vùng cổ (đỏ, da nóng, tăng tiết mồ hôi), vẫn có một tỉ lệ nhỏ bệnh nhân không có bướu giáp lớn (liên quan kháng thể).

Read more: Bệnh Basedow (p2)- Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

Phần I: Định nghĩa đến cơ chế bệnh sinh

I. ĐỊNH NGHĨA
Basedow là một trong những bệnh lí cường giáp thường gặp trên lâm sàng với các biểu hiện chính: nhiễm độc giáp kèm bướu giáp lớn lan tỏa, lồi mắt và tổn thương ở ngoại biên.
Bệnh Basedow mang nhiều tên gọi khác nhau Bệnh Graves. Bệnh Parry. Bướu giáp độc lan tỏa. Bệnh cường giáp tự miễn. Nhờ sự tiến bộ của miễn dịch học, ngày càng nhiều kháng thể hiện diện trong huyết tương người bệnh được phát hiện, vì thế hiện nay bệnh được xếp vào nhóm bệnh liên quan tự miễn.

Read more: Bệnh Basedow (P1): Định nghĩa và cơ chế bệnh sinh

Khi đường trong máu thấp dưới mức 2.7 mmol/l thì gọi là hạ đường huyết. Tuy nhiên, các dấu hiệu của hạ đường huyết không giống nhau ở mỗi bệnh nhân.

Các biểu hiện của hạ đường huyết:

Các dấu hiệu của hạ đường huyết không giống nhau ở mỗi bệnh nhân. Nhưng thường xuất hiện vào lúc sắp đến bữa ăn và có một hay nhiều dấu hiệu chung sau:

Mệt đột ngột không giải thích được; đau đầu, chóng mặt lả đi; cảm giác đói cồn cào; vã mồ hôi; tê buồn chân tay; chân có cảm giác nặng; lo lắng bứt rứt; run tay; hồi hộp, tim đập nhanh; có khi buồn nôn và nôn.

Read more: Xử trí cấp cứu hạ glucose máu

I. ĐỊNH NGHĨA

Hạ glucose máu còn được gọi là hạ đường huyết, để diễn đạt những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng xảy ra đối với cơ thể người khi nồng độ glucose huyết tương tĩnh mạch (50 mg/ dl (2,7 mmol / l).
Hạ glucose máu là một trong những cấp cứu nội khoa thường gặp trên lâm sàng, là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường sử dụng insulin hoặc sulfamide hạ đường huyết. Tuy nhiên thực tế lâm sàng giới hạn nồng độ đường máu nói trên có thể thay đổi do tình huống lâm sàng cấp hay mạn tùy thuộc vào độ tuổi cũng như bệnh lý đi kèm nhất là bệnh nhân đái tháo đường có thời gian mắc bệnh kéo dài.

Read more: Hạ glucose máu

      

Hội Nội Tiết- Đái Tháo Đường Miền Trung Việt Nam

Diabetes- Endocrinology- Metabolism Association of central Vietnam

Tổng biên tập: NGƯT.GS.TS. NGUYỄN HẢI THỦY

Liên hệ ban biên tập: 0903574457, email: nhthuy52@gmail.com hoặc admin@dema-cvn.com

Năm xuất bản: 12/2010